RSS

Rượu đắng chén Xuân thu

26 Jan

Mở
Tôi được quen Giáo sư Trần Văn Giàu năm 1980, trong Hội nghị về Nguyễn Trãi ở Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh. Thời bấy giờ chính quyền đang kêu gọi chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán, gần như tất cả các vấn đề lịch sử và văn hóa có liên quan không những với Trung Quốc mà cả với người Hoa đều được giới nghiên cứu nhìn từ khía cạnh ấy (xem thêm entry 006, đoạn IV), nhưng nói thẳng ra thì thứ học thuật tô màu nghị quyết, phục vụ chính trị ấy là rất kém cỏi nếu không nói là ấu trĩ. Phải nói ngay rằng sở dĩ ngay từ thời bấy giờ tôi đã nhận ra điều đó không phải vì khôn mà là nhờ may. Luận văn tốt nghiệp Đại học của tôi là viết về Tao đàn Chiêu Anh Các ở Hà Tiên đầu thế kỷ XVIII, Tao đàn này do một người Việt gốc Hoa là Mạc Thiên Tích, Đô đốc trấn Hà Tiên thành lập và chủ trì, thành viên tham gia lại có nhiều tác giả Trung Hoa từ Hoa Nam lui tới ngâm vịnh xướng họa, trong hoàn cảnh thời bấy giờ trở thành một vấn đề nhạy cảm nên nói chung ít được quan tâm. Nhưng đây là Tao đàn lớn nhất Đàng Trong thế kỷ XVII – XVIII và là Tao đàn khai sinh cho văn học thành văn Việt Nam ở đồng bằng Nam Bộ, muốn nghiên cứu về văn học Hán Nôm Nam Bộ thì không thể bỏ qua. Ban Văn học nơi tôi làm việc lúc ấy cũng thấy rõ điều đó nên phân công tôi tiếp tục tìm hiểu về Tao đàn này, có điều trong phong khí học thuật phục vụ chính trị đương thời thì theo đuổi một đề tài như thế cũng giống như cởi quần ra ngồi lên ổ kiến lửa. Biết Giáo sư Trần Văn Giàu là một nhà sử học lớn, lại là “con dân Nam Kỳ”, chắc chắn có thể chỉ giáo cho mình nhiều điểm vướng mắc về lý luận, nên có vài lần tôi đề nghị ông Nguyễn Liệu Trưởng ban Văn học giới thiệu cho được tiếp xúc và thỉnh giáo, nhờ thế trong Hội nghị Nguyễn Trãi ấy tôi mới được gặp ông. Nghe ông Nguyễn Liệu nói thêm về gia đình, ông càng vui vẻ đồng ý cho một cái hẹn từ 18 đến 20h tại nhà riêng. Đến hẹn tôi mang một chồng tư liệu tới, trình bày khoảng một giờ, nghe xong ông nói luôn một mạch về mấy điểm cần lưu ý, kế nói bác không biết chữ Hán nhưng những điểm bác mới nói về lịch sử có giúp được gì cho cháu không. Tôi cũng ngay tình thưa những điểm bác nói cháu đã nghĩ tới, có điều cháu làm luận văn Đại học đến nay đã ba năm, còn bác mới nghe cháu trình bày qua trong một giờ đã nói được tất cả những cái khó của đề tài này mà còn sâu hơn, loại hậu sinh như cháu mà nói bác giỏi thì thật tức cười nhưng nói thật cháu rất phục, xin bác cho phép cháu thỉnh thoảng tới đây học hỏi. Ông gật đầu nói về thưa lại với ba là bác Sáu gởi lời thăm.
Tôi được quen biết ông từ đó.
Lần ấy dĩ nhiên tôi chỉ được uống trà, nhưng trong nhiều năm sau dần dần được uống rượu của bác Sáu. Sau đây là vài câu chuyện về rượu với đại nhân vật này trong đó tôi vừa là người trong cuộc vừa là kẻ chứng nhân.

I.
Năm 1987 có lần tôi tới Thư viện Khoa học xã hội tra mấy chữ Hán, kế đi vòng vòng trong phòng Thủ thư xem xem những sách mượn của người đọc gởi lại, có một quyển đề cập tới triều Nguyễn trong có bài của bác Sáu, mở ra xem thấy ông phê phán Lê Văn Duyệt, đại khái lúc ấy Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành, chính quyền Xiêm La muốn tranh giành ảnh hưởng ở Cao Miên nên kiếm chuyện, Lê Văn Duyệt bèn gởi tờ tâu lên Minh Mạng, đại ý nói là xin bệ hạ chuẩn bị sẵn, nếu phải đánh nhau xin sai một viên đại tướng đem quân theo đường Nghệ An qua Lào đánh mặt bắc, thần sẽ đem quân thủy bộ cùng tiến đánh mặt nam chứ không cho giặc ra tay trước, lời lẽ quả rất hung hãn. Nhưng xét từ trách nhiệm giữ đất yên dân thì tư tưởng quân sự của Lê Văn Duyệt là rất tích cực, tức không chấp nhận để chiến tranh xảy ra trên đất Việt Nam để tránh những thiệt hại về kinh tế – xã hội, hơn thế nữa khoảng 1976 – 1984 ở Việt Nam các giới các ngành đều đồng ca cái điệp khúc Làm chủ…, cả quân đội cũng nêu ra luận điểm Làm chủ để tấn công, Tấn công để làm chủ, bài học chiến tranh biên giới tây nam cũng còn sờ sờ ra đó, mà sao ông bác lại chê Lê Văn Duyệt lên bờ xuống ruộng thế này? Lật lại bìa thấy là sách xuất bản ở Hà Nội khoảng 1963, 1964 gì đó, cười thầm nghĩ có đề bài để làm văn rồi, vì trong thời gian ấy Quốc trưởng Sămđéc đang ngầy ngà với chính quyền Ngô Đình Diệm về vụ đất đai Thủy Chân Lạp mà Việt Nam dân chủ cộng hòa đang có quan hệ tốt với Campuchia. Lập tức rời Thư viện phóng xe đạp tới nhà bác Sáu, vào thấy không có khách nào, chào hai ông bà già xong bèn cười cười nói với bác Sáu:
”Cháu vừa đi đọc sách ở thư viện về, thấy một bài của bác hay quá”.
Người ta ai mà không thích khen, ông già liền vui vẻ hỏi “Bài nào vậy?”.
”Thì bài bác chửi Lê Văn Duyệt ấy”.
Ông phản ứng rất nhanh mà cũng rất thẳng thắn “ĐM., hồi đó phải viết vậy đó mày!”.
Tôi bật ngửa ra trên cái ghế salon, dáng vẻ phải nói là rất hỗn hào, chỉ tay vào bụng ông buông ra hai chữ “Sử công (Thợ sử)!”.
(Xin nói thật là với vài chú bác như bác Sáu Giàu, chú Tư Ánh tôi có cách cư xử giống hệt như với ba tôi, nếu chỉ có hai người thì cậy là loại con cháu được nuông chiều nên ăn nói ngang tàng, còn nếu có người thứ ba là lập tức thưa gởi vâng dạ rất có khuôn phép. Ba tôi thì không nói làm gì, nhưng mấy ông già này không những chịu được mà còn tỏ ra rất chịu làm chính tôi nhiều khi cũng thấy ngạc nhiên. Mãi đến 1992 tôi mới hiểu ra là các đại nhân vật ấy thuở trẻ cũng rất ngang tàng, sau khi thành danh thì phần phải tự kìm chế mình, phần thì đã lớn tuổi nên cũng điềm tĩnh hơn, nhưng thường tiếp xúc với hạng em cháu luôn miệng thưa gởi vâng dạ nên có khi cũng thấy trống vắng, gặp một thằng cháu bất kham nhưng biết điều như tôi tự nhiên gi
ng như được thấy lại phần nào chính mình ngày xưa, nên mới mặc kệ cho tôi bừa bãi).
Hai bác cháu cùng cười, kế nói chuyện thêm vài câu thì bác Sáu bước vào trong lấy ra một chai rượu tiêu, nói “Có đứa mới cho bác, cháu uống đi. Uống không hết thì mang về uống tiếp”.
Tôi cũng bước vào trong thưa với bác gái lấy cho hai cái ly, ra rót một ly mời ông. Chai rượu rất thơm, nhưng rất cay.
Sau đó hơn mười năm, Tạp chí Xưa và Nay và Hội Sử học thành phố mở một cuộc Tọa đàm về Lê Văn Duyệt, Tiến sĩ Trần Thị Thu Lương có dự, sau đó tới chơi kể lại cho tôi nghe, nói bác Sáu không dự cuộc Tọa đàm ấy.
Tôi biết trước chuyện đó mà.
Trước cuộc Tọa đàm về Lê Văn Duyệt nói trên, Thu Lương ghé chơi đã hỏi bên anh Quốc có mời anh không, tôi nói không. Thu Lương nói Để em hỏi họ lấy giấy mời cho anh, tôi nói Họ muốn mời ai thì mời, mày đừng đẩy họ vào chỗ khó xử, làm cả tao cũng khó xử, Thu Lương mới thôi.
Thật ra nếu anh Dương Trung Quốc có mời tôi cũng không đi.
Chai rượu tiêu tôi không cầm về mà vẫn để ở chỗ bác Sáu, lâu lâu qua chơi với ông thì đem ra uống, mà cũng chỉ một mình tôi uống hết chai rượu ấy.

II.
Khoảng 1992, lúc ấy tôi nhận viết bài Nho giáo ở Gia Định trong quyển Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập IV (Tư tưởng) do bác Sáu chủ biên nên thường tới gặp ông, có lần ông hỏi về thơ Phan Thanh Giản, tôi thưa là thơ Phan Thanh Giản hay lắm, Tự Đức khen là cổ nhã không phải sai đâu, kế nói “Ông Sáu biết Phan Thanh Giản chết mấy lần không? Cả thảy bốn lần”.
Bác Sáu lập tức cảnh giác “Sao nhiều quá vậy?”.
“Lần đầu là Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử, lần thứ hai là thực dân khen Phan Thanh Giản sáng suốt không chống lại Pháp, đó là bị ám sát, lần thứ ba là triều đình Tự Đức ra bản án xử tội Phan Thanh Giản “đục tên trong bia Tiến sĩ…”, đó là bị bức tử, lần thứ tư vào khoảng 1960 – 1963, sau khi Đảng ta hạ quyết tâm dùng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, Phan Thanh Giản là một nhân vật “chủ hòa” bị mang ra đấu tố, và trong phiên tòa ấy Phan Thanh Giản đã bị xử tử…”.
Bác Sáu vội nói “Đó là thằng Liệu, không phải tao”.
”Đừng có chối ông già ơi. Lần đó ông Trần Huy Liệu ngồi ghế Chánh án thì bác ngồi ghế Thẩm phán, báo hại bác Tư (tức Giáo sư Ca Văn Thỉnh) phải im lặng không dám làm Luật sư…” (*).
Ông thở dài, lát sau nói “Gần đây bác không khỏe lắm, muốn viết cái gì dài cũng khó, định viết ngắn ngắn thôi, cháu thấy bác nên viết cái gì?”.
Tôi thưa “Sách vở bác viết bây giờ chất lên còn cao quá đầu cháu, thêm một quyển bình thường cũng chẳng có gì lạ, hay bác cứ viết một quyển Những sai lầm trong đời nghiên cứu của tôi, nói rõ hồi trước tại sao bác viết như thế về Lê Văn Duyệt, về nhà Nguyễn này nọ, là ví dụ thế, từng đoạn ngắn ngắn thôi thì cũng dễ viết, mà đám nhỏ như bọn cháu học được nhiều lắm, cháu nói thật lòng đấy”.
Ông trầm ngâm một lúc rồi nói “Chuyện đó khó lắm, để bác tính lại”, rồi chỉ một hũ rượu rắn khoảng năm lít nói “Cháu rót uống đi, của một đứa doanh nhân mới ngâm cho bác đấy”.
Thấy ông có vẻ buồn buồn, tôi thầm hối hận vì mình nông nổi, sai lầm của cả một nền sử học mà bắt một người phải gánh hết trách nhiệm thì quả có chỗ bất công.
Rượu rắn mới ngâm tanh rình, nhưng cũng phải gượng gạo tỏ ra thản nhiên mà uống, đúng là trời trả báo!
Trong cuộc Tọa đàm Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản do Hội Sử học Việt Nam tổ chức ở thành phố năm 2003, bác Sáu cũng không dự.
Tình cờ là lại cũng chính Thu Lương báo trước cho tôi về cuộc Tọa đàm ấy, cũng chính Thu Lương nói Để em hỏi họ lấy giấy mời cho anh, tôi cũng nói Đừng ép người ta vào chỗ khó xử, nhưng 19h00 tối trước hôm Tọa đàm anh Dương Trung Quốc gọi điện nói lu bu không kịp gởi thư mời, thôi bác thông cảm mai cứ tới ngồi chơi với anh em cho vui, tôi nghĩ nếu không đi thì không khéo người khác tưởng mình giận lẫy, có khi giống như lại đẩy y vào chỗ khó xử nên cũng đi. Sáng hôm sau đang nghe thì anh Phan Xuân Biên tới ngồi cạnh hỏi mày nghĩ về Phan Thanh Giản thế nào, tôi đáp y đạo đức cá nhân tốt đẹp nhưng thụ động về phương pháp tư tưởng nên khi Pháp đánh Việt Nam dần dần trở thành bị động trong hành động thực tiễn rồi sau cùng tiến tới chỗ phản động về ứng xử chính trị thôi mà, nhiều người từng sống trong thời bao cấp chuyển qua thời đổi mới hiện nay cũng thế chứ có khác gì y đâu (xem thêm entry a19). Sau giờ giải lao trở vào anh Biên nói Mày chuẩn bị nhé, tao bảo thằng Quốc giới thiệu mày phát biểu rồi đấy, cứ nói những cái mày vừa nói với tao là được.

***
Sau đó khoảng nửa tháng, tôi lại ghé thăm bác Sáu, ông hồ hởi nói bác nghĩ ra rồi, tao định viết một quyển kiểu như hồi ký gồm những chuyện ngắn ngắn về những người tao quen như Cụ Hồ, Cụ Tôn Đức Thắng, ông Trường Chinh…, có điều chưa biết đặt tên là gì. Tôi cười cười nói chuyện đó có gì khó, chỉ là chẳng lẽ cháu học hành khổ cực mà không được thù lao, tốt nhất là bác nên báo đáp bằng rượu, rồi chìa ra bốn chữ Soi gương tìm bóng, lại tán thêm là bác coi các đại nhân vật ấy là tấm gương, nhưng loại con cháu như cháu cũng coi bác như tấm gương, hai tấm gương mà soi vào nha
u thì ra hàng đống tấm gương trông rất hay ho này nọ. Ông vui hẳn lên, mang rượu sâm ra cho uống, kế nói cho mày hũ rượu rắn đó, mang về mà uống. Tôi nghĩ mình tay không nhận lộc cũng kỳ, bèn thác cớ là đi xe đạp không tiện chở, bác cứ giữ giùm bữa khác cháu qua lấy…
Năm ấy tôi cùng hai người bạn ở Hà Nội làm quyển Quốc triều hương khoa lục, phía bắc đã nộp bản, tôi nhận hiệu đính và giới thiệu, còn đang làm dở thì bị tai nạn giao thông, tạm thời bàn tay phải không sử dụng được. Bèn qua gặp anh Nguyễn Khuê ở khoa Văn Đại học Tổng hợp, nói anh tìm cho hai sinh viên Hán Nôm tới giúp để hoàn thành bản thảo, nam cũng được nữ cũng được, nếu nữ thì nhất định phải là hai người vì tôi thường ở nhà một mình. Anh Nguyễn Khuê sốt sắng nhận lời, ngay trong tuần đích thân dắt hai sinh viên nữ tới, nói là khá nhất trong năm thứ tư, một cô tên Châu, tôi quên mất họ rồi, một cô tên Võ Thị Tâm, hiện đang làm việc ở Bảo tàng Bình Thuận, cả hai đều rất ngoan ngoãn siêng năng. Làm việc được khoảng một tháng thấy có thể lợi dụng, một hôm mua sẵn mấy hộp sữa với hai ký đường, sáng ra hai cô vừa tới liền chặn ngay từ cửa hỏi xe đạp đứa nào tốt hơn, nói là đều không có thắng như nhau. Bèn nói tôi mượn hai em một chiếc xe, hai em chở nhau bằng một chiếc đi với tôi, cầm giùm mớ sữa đường kia, cùng qua nhà bác Sáu. Vào cửa thưa với bác Sáu là vụ hũ rượu rắn bác có đổi ý không, ông già cười nói của mày thì mày cầm về, bèn chìa mớ sữa đường ra nói là đổi cái keo, rồi bảo Châu ngoắc một chiếc xích lô ôm hũ rượu rắn ngồi lên chạy về nhà. Bác Sáu bèn bảo trút luôn hũ rượu sâm vào cho gọn chuyện, nhưng tôi sợ hư sâm nên lấy nước không lấy cái, chỉ lấy một củ để át mùi tanh. Bác Sáu gái cũng đưa ra tới cửa, nói lúc nào chú uống hết rượu thì trả lại cho tôi cái keo, vừa buồn cười vừa bực mình nói Đúng là đàn bà hay keo kiệt chuyện lặt vặt, rượu đã cho mà keo còn tiếc, cái keo này tanh rình, bà Sáu mà xài thì phải tốn ba ngàn tiền xà bông để rửa, chẳng thà để con nói mấy đứa nhỏ này ra mua cho bà Sáu hai ngàn tiền keo, hai ông bà già và hai cô nhỏ bò ra cười. Về tới nhà hỏi Châu dọc đường có ai nhìn không, cô nhỏ gần đèn một tháng nên cũng hơi sáng bèn đáp “Có gần một tỷ người nhìn em thầy”.
Hũ rượu rắn ấy nhờ có rượu sâm nên uống rất êm, có điều tôi uống hơi nhanh, làm thủy lợi tưới tiêu liên tục nên chỉ sau hai tháng ba con rắn đã trắng nhợt ra, lại vì không có đúng thứ rượu ngâm nước đầu nên càng ngày càng tanh, uống vào là tối ngủ nằm mơ thấy cả bầy rắn đuổi cắn, bèn quyết định không uống nữa. Vả lại ngoài vấn đề protéin động vật còn có vấn đề tâm linh, những người uống rượu ngâm con nên cẩn thận, vì sau hũ rượu ấy đến bây giờ tôi chỉ uống rượu ngâm cây…

III.
Khoảng 1983, Ban Văn học Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh chỗ tôi làm việc lúc ấy kết hợp với Long An biên soạn quyển Địa chí Long An, cán bộ nghiên cứu hai tổ Văn học Cổ cận đại và Văn học dân gian thường phài đi điền dã điều tra sưu tầm tư liệu. Lúc ấy tôi và ông Huỳnh Ngọc Trảng thường đi chung, chịu trách nhiệm điều tra khu vực hai huyện Vàm Cỏ (Tân Trụ và Châu Thành cũ) và Bến Lức. Hai vợ chồng bác Sáu đều là người huyện Châu Thành (bút danh Tầm Vu của ông là lấy từ tên chợ Tầm Vu thuộc xã Hiệp Thạnh), bác Sáu quê ở xã An Lục Long, bác Sáu gái tên con gái là Đỗ Thị Đạo, quê ở xã Phú Ngãi Trị, cũng là quê của Nguyễn Thông (1826 – 1884), nên khi điều tra tôi tình cờ nắm được gia phả nhà họ Đỗ. Đại thể bà cố của bác Sáu gái tên Huỳnh Thị Đức, có bốn con trai, trong đó có một người sinh ra ông Đỗ Tường Ninh, thân sinh của bác Sáu gái. Sau khi tôi công bố một số tư liệu đính chính vài ngộ nhận trước đó về tiểu sử Nguyễn Thông trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử năm 1983 trong đó có nhắc tới ông Đỗ Tường Ninh, “một nhân vật có liên quan với phong trào Đông du ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX và là nhạc gia của Giáo sư Trần Văn Giàu hiện nay” thì cả hai ông bà đều rất thích thú, bác gái còn cho biết thêm lúc còn nhỏ bà từng nhiều lần nấu nước pha trà cho ông thân sinh tiếp cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc lúc cụ Phó bảng vừa ngoài Trung vào Nam ghé chơi nhà. Nhưng bác Sáu từ nhỏ đã đi học xa nhà, kế đó đi làm cách mạng nên nói chung không biết nhiều về gia đình bên vợ, vì thế có lần phải mất rượu cho tôi.
Năm 1995 có lần tôi tới thăm bác Sáu, trò chuyện một lúc, ông hỏi tôi “Theo chú địa chủ Nam Kỳ trước thời Pháp thuộc là thế nào?”.
Tôi mặc cả “Ông Sáu hỏi đúng người rồi, nhưng có rượu không?”.
Bác Sáu phì cười “Chú có cái gì mới nói nghe trước đã”.
“Chuyện trong gia đình bác gái thôi mà. Ông nội của bà Sáu có người anh tên Đỗ Tường Phong, lúc nhỏ là bạn học của Nguyễn Thông, lớn lên thừa kế gia tài thành địa chủ, về sau chống Pháp bị bắt đưa về xử tử ở chợ Tầm Vu. Ông Phong có một cái quạt quý, nan quạt bằng ngà voi, là vật bất ly thân. Lúc ông bị bắt, bọn lính lột hết tiền bạc nhưng không lấy được nó. Khi bị đưa ra chém, ông rút ra chỉ vào thằng đao phủ nói: Mày chém tao một nhát cho ngọt thì tao thưởng cho mày cái quạt này. Đó là địa chủ Nam Kỳ trước thời Pháp thuộc”.
Bác Sáu cười lớn “Thưởng cho chú một ly. Chú chờ tôi lấy rượu…”.
Thấy tôi uống hết ly rượu sâm còn nhìn nhìn cái ly, ông nói “Mày vào phòng bác lấy rượu uống thêm đi, một ly nữa thôi đấy”.
Thằng cháu hiểu rồi. Tôi uống luôn một ly ngay trong phòng ông rồi rót một ly mang ra, liếc bác gái một cái, cố nhịn để không cười phá lên.

Nhát chém này ngọt thật, nhưng bác Sáu cũng rất Anh Hai.

(*) Trong một bài viết trên Đại đoàn kết ra ngày 30. 8. 1997, tôi có kể lại chuyện này, nhưng tạm lược hai câu nói trên. Sau đó chị Minh Hiền Phó Tổng biên tập kể trong lần họp giao ban hàng tháng, đại diện của Vụ Báo chí Ban Tuyên huấn có nhắc tới bài ấy nhưng không nêu tên tác giả và nói vấn đề Phan Thanh Giản là do lịch sử để lại, đừng nói tới nữa là hay… Khi đưa in lại bài ấy trong quyển Nghiên bút mười năm (Nxb. Văn học, 1999) tôi đã đắn đo mãi nhưng sau cùng đành phải thôi, vì quyển ấy đụng chạm tới khá nhiều người rồi, nếu lại có chuyện với Ban Tuyên huấn thì khó mà bán sách, vả lại ông Nguyễn Văn Lưu Giám đốc Nxb. Văn học vốn rất cẩn thận, nhất định sẽ không để hai câu ấy sổng chuồng!

Tháng 1. 2008

 
29 Comments

Posted by on January 26, 2008 in Uncategorized

 

Tags:

29 responses to “Rượu đắng chén Xuân thu

  1. HY

    January 27, 2008 at 10:41 am

    Chuyện gì cũng có rượu là sao, cụ ơi 🙂

     
  2. Annie & Tonnie

    January 28, 2008 at 1:01 am

    Rượu sâm ngon bổ, rượu tiêu cay, rượu rắn tanh rình 🙂 Mỗi câu chuyện liên quan đến 1 loại rượu khác nhau hi hi.

    @HY: rượu là kiểu “one size fits all”, vui – uống, buồn – uống, chán – uống, không vui không buồn – uống, etc hi hi.

     
  3. Annie & Tonnie

    January 28, 2008 at 1:31 am

    “Chén đắng rượu Xuân Thu – Bi kịch của Phan Thanh Giản ” vs “Rượu đắng chén Xuân Thu -…”

     
  4. trục nhật phi

    January 28, 2008 at 8:10 am

    * HY: “Làng say không thuộc Trung Quốc, chẳng biết rộng mấy ngàn dặm, bao la không bến bờ. Ở đó không có gò núi hiểm trở nên khí hậu ôn hòa, không có sáng tối nóng lạnh nên tập tục đại đồng, không có thôn xóm quần tụ nên nhân vật thanh nhã” (Vương Tích, Túy hương ký). Làng say nó hay ho như thế nên những người chán khí hậu không ôn hòa, buồn tập tục không đại đồng, ghét nhân vật không thanh nhã thường ghé vào đó, có gì lạ đâu!
    * HS: …Bi kịch của nhiều sử gia.

     
  5. Yến Thanh

    January 28, 2008 at 8:31 am

    Anh ạ, em thấy comment của AQ hay đó. Hay anh thay “họ” làm cuộc cải chính chi tiết hơn nữa đi, trên blog ấy! :=)
    Ngoài ra, anh cho em hỏi một câu tào lao ngoài đề nhé, “rượu ngâm con uống còn liên quan đến tâm linh”, chuyện liên quan ấy nó như thế nào vậy anh?

     
  6. Uyen

    January 29, 2008 at 1:20 am

    Lần trước tiên sinh nói xem Tử vi thấy Dịch mã động sớm biết phải dời nhà, lần này luận về khí trong rượu ngâm con rất sâu sắc, thì ra tiên sinh ngoài Tâm học còn giỏi cả nho y lý số, không biết sở học của tiên sinh rộng rãi như thế là học từ ai ạ?

     
  7. AQ

    January 29, 2008 at 10:43 am

    “… vấn đề Phan Thanh Giản là do lịch sử để lại, đừng nói tới nữa là hay…” Kẻ nào nói câu này thật là vô trách nhiệm với lịch sử. Có những sử gia, do “hoàn cảnh” mà không thể nói đúng sự thật (cụ thể như trường hợp bác Sáu), ta có thể thông cảm được, chứ không vì thế mà chấp nhận những sự sai trái do lịch sử để lại. Các thế hệ sau, không bị ràng buộc bởi “hoàn cảnh” thì phải có trách nhiệm chỉnh sửa lại cho đúng, cho con cháu hiểu đúng về con người và sự kiện. Hãy đừng để cho cụ Phan Thanh Giản chết 4 lần, đừng để cụ Lê văn Duyệt bị ô nhục vì nhân phẩm bị bôi nhọ … Chỉ vì cái quan điểm “đừng bới móc lịch sử” mà người ta cứ chà đạp lên bao nhiêu nhân phẩm một cách thỏai mái. Chỉ riêng 2 cuộc kháng chiến vừa qua, có biết bao nhiêu người bị hàm oan, mai một … vậy mà họ định cho “chìm xuồng”. Chắc họ sợ, những người kia được nêu danh, thì danh của họ chỉ như miếng giẻ rách.

     
  8. trục nhật phi

    January 29, 2008 at 12:56 pm

    * AQ: Đa tạ nhân huynh. Nhiều người cố tình quên sử học cũng là một vấn đề lịch sử. Sử học miền Bắc đến 1975 phát triển méo mó trong khuôn chính trị thời chiến, sau đó vì không sửa nhanh nên khi trở thành sử học chính thống của toàn quốc mới bất lực và góp phần dẫn tới những bi kịch lịch sử như Hoàng Sa mới đây.
    * The Loner: Chuyện cải chính anh nói tôi đã làm từ 1983 đến nay, nhưng một cá nhân làm được tới đâu thì làm thôi, chứ phải nhiều người nhiều thế hệ mới khắc phục được hết cái phần khiếm khuyết trong di sản sử học Việt Nam từ 1954 đến nay được, mà còn cần bình tĩnh thận trọng nữa. Nếu nôn nóng cầu danh lập công chửi bậy nói càn thì phủ nhận được một cái sai lại tạo ra thêm một cái sai khác, có ích gì cho đời cho mình đâu.
    Chuyện rượu ngâm con nếu anh biết khái niệm khí trong triết học và y học phương Đông thì rất dễ suy nghĩ. Đại khái khí có động có tĩnh, có tụ có tán, con vật đã chết khí trong máu thịt đã tụ lại tĩnh, nếu ngâm rượu uống rất dễ có những tác động bất thường tới quy trình động tĩnh tụ tán về khí của người dùng. Những thứ rượu đàn ông hay dùng vào việc trong phòng chính là có tác động bất thường ấy đấy. Khi quy trình động tĩnh tụ tán về khí của người dùng bị thứ khí đã tụ lại tĩnh ấy chi phối tới mức vận hành lệch nhịp tiên thiên lập tức sẽ có những hiện tượng hay trạng thái tinh thần, trí tuệ khác lạ, đó chímh là có vấn đề về tâm linh…

     
  9. AQ

    January 30, 2008 at 2:03 am

    Rượu của tại hạ không tanh mùi đồng, không nhiễm mùi tục lụy, không cay đắng tình đời. Rượu này gặp hỏa làm cho hỏa thêm tỏa sáng và êm dịu; gặp thổ sẽ giúp cho thổ thêm màu mỡ; gặp kim thêm sắc bén; gặp mộc thêm tươi tốt và gặp thủy thì trôi chảy thông suốt. Nó giúp người uống hòa hợp âm dương, phát triển trí não … Kẻ tài danh thì làm nên chuyện vĩ đại, người ngu muội sẽ biết người biết ta, không phát ngôn bừa bãi… Mại vô !
    “Kẻ múa võ mồm, bán rượu thuốc”

     
  10. Annie & Tonnie

    January 30, 2008 at 2:16 am

    Bác ơi, lỗi đánh máy nì “Nho giáo ỡ Gia Định”.

     
  11. trục nhật phi

    January 30, 2008 at 2:49 am

    Uyen: Lỡ trớn trả lời The Loner, thành phải trả lời bạn chứ entry nói đầu trâu mà comment bàn mõm ngựa thế này thì chướng lắm. Đại khái tôi thích Tâm học nên cái gì có thể giúp mình hiểu thêm về con người thì ráng tìm sách mà đọc tìm bạn mà hỏi. Còn cái học trên đời bao la, tôi rộng chỗ này thì người khác rộng chỗ khác, ăn thua là học phải dùng, học mà không dùng thì không thấy cần học thêm hay không biết phải học thêm cái gì, vậy thôi.

     
  12. trục nhật phi

    January 30, 2008 at 4:37 am

    AQ: Cung kính bất như phụng mạng, tại hạ gặp người thật uống rượu thật, trước bạn ảo uống rượu ảo, lúc nào mà không được. Đa tạ nhân huynh.
    HS: Cảm ơn nhiều lắm.

     
  13. Yến Thanh

    January 30, 2008 at 7:11 am

    @ chị Quỳnh Vy: em xin mạn phép tiên sinh trả lời một ý về việc người Hoa họ năng “thăm” ngài Tả quân Lê Văn Duyệt của chúng ta: gói gọn trong 4 chữ “mê tín dị đoan” thôi chị ạ! Người Hoa nhìn chung họ “buôn thần bán thánh” nhiều hơn người Việt mình, nhất là đối với những anh hùng dân tộc của mình đã từng đánh bại các vua chúa hay chính quyền của họ. Hình như với họ đó là cách “tạ lỗi” để… được lại quả tốt nhất ấy hì hì Ngoài ra cũng có thể tính cả những thầy bà địa lý, phong thủy cũng hay lượn lờ để nghe ngóng và trấn trấn yểm yểm gì chăng?
    Riêng người Việt mình ít vào thì em cũng không rõ lắm. Nhưng nếu luận từ việc nổi loạn của con nuôi ngài là Lê Văn Khôi ra thì chắc dân mình bị cái dớp sợ lụy vào thân chăng, dẫu cho đến tận ngày nay!?!
    @ Trục Nhật Phi tiên sinh: ở trên em đã mạn phép anh giải thích câu hỏi của chị Quỳnh Vy theo quan sát và tự luận của bản thân. Nếu có gì sai sót, anh bỏ quá ạ! :=)

     
  14. Yến Thanh

    January 30, 2008 at 7:20 am

    Anh ơi, em xin phép gửi các đường dẫn vụ đất đai cho anh qua cách add nick nha, vì gửi trực tiếp qua comment chung em nghĩ không tiện và tốt lắm.

     
  15. Yến Thanh

    January 30, 2008 at 7:25 am

    Em cám ơn anh nhiều đã mở rộng thêm cho em về Y học và Triết học phương Đông. Hiện em còn trẻ, nên chắc chưa cần đến rượu ngâm bất cứ con gì hì hì, song trước lý giải của anh thì có lẽ cao tuổi cũng đành thuận theo tự nhiên mà không cố níu kéo mà chi :=)
    Hiện đang ồn ào vụ đất đai của Công giáo ngoài Bắc, theo anh thì thực chất của việc đòi đất là gì ạ? Em không rõ câu hỏi của em đối với blog chuyên bàn về học thuật của anh có hợp không nữa, nhưng vẫn mạo muội post vậy, vì hy vọng sẽ có được những thông tin khách quan nhất từ một người làm công việc nghiên cứu như anh và cũng đồng thời giữ được nhiều trầm tĩnh khi không bị vòng lợi danh vây phủ.

     
  16. Yến Thanh

    January 30, 2008 at 7:30 am

    À, em đặc biệt thích câu trả lời cuối cho comment đầu tiên của em: “Nếu nôn nóng cầu danh lập công chửi bậy nói càn thì phủ nhận được một cái sai lại tạo ra thêm một cái sai khác, có ích gì cho đời cho mình đâu.”

     
  17. trục nhật phi

    January 30, 2008 at 11:03 am

    The Loner: Cho tôi đường link vào cái tin đất đai anh nói, trong vòng 24 h sẽ có một entry trả lời anh.

     
  18. AQ

    January 30, 2008 at 11:12 am

    Tại hạ có rượu không tanh, không bẩn. Tết này, Sếnh sáng định tiếp khách vào ngày nào ? Tại hạ kính Sếnh sáng một chai. Bảo đảm không nhức đầu vì bất kỳ lý do gì.

     
  19. Annie & Tonnie

    January 30, 2008 at 11:52 am

    @QV: có lần tớ đến Lăng Ông chơi, được nghe kể rằng sau loạn Lê Văn Khôi, Lăng Ông bị xiềng lại và trở nên rất linh thiêng, người dân xung quanh cúng bái rất đông. Sau đó có lần vua Thành Thái đi ngang qua, đến ngang Lăng thì xe bị hư, sửa hoài không nổ được, hỏi han người dân quanh vùng 1 hồi, vua ra lệnh tháo xiềng quanh lăng, xe chạy được nhưng từ đó lăng không còn thiêng nữa. Kể lại để QV nghe chơi cho vui hi hi.

    @bác TNP: thường HS thấy người ta bàn chuyện liên quan trong comment của từng entry và thăm hỏi, nhắn tin, hỏi những câu ngoài lề ở quick comment hay bằng cách send message. Quick comment và message ở blog này chỉ dành cho friends of friends (?), nên người ngoài muốn hỏi hay bàn luận gì thì chỉ có cách vào các entry nên khó tránh lạc đề. Tuy nhiên có nhiều câu tuy hơi lạc đề nhưng xét ra vẫn liên quan, ví dụ ở trên nhắc đến ông Lê Văn Duyệt nên ở dưới QV mới hỏi đến Lăng Ông, etc.

     
  20. HS

    January 31, 2008 at 1:40 am

    Hi hi, bác ơi, HS nè. Đúng là ở blog bác thì chức năng “send message” và “quick comment” chỉ dành cho friends of friends thôi ạ. Sở dĩ blog kia HS có thể quick comment thoải mái là vì là friend của Hổ Phụ Tử, mà HPT là friend của bác. Còn thử cái blog này (không có friend nào là friend của bác) thì không có chức năng “send messag” to bác và quick comment chỉ vẽ được các loại mặt cười, mặt méo thôi chứ không nói gì được. Có thể lúc set blog bác không để ý. Thế nên ở trên The Loner mới phải gửi link “qua cách add nick” chứ không phải qua cách “send message” ạ.

     
  21. trục nhật phi

    January 31, 2008 at 1:45 am

    * Các vị: Cha mẹ ơi, tôi bận làm thuê nhưng thôi được rồi, trong vòng ba ngày nữa sẽ có một entry về Lê Văn Duyệt để các vị xem chơi vậy.
    * HS: Quick comment và message ở blog này cũng public như chính nó vậy, đừng khoác lên cổ nhau tội phân biệt chủng tộc chứ.
    * AQ: điểm 2 về lý do người Hoa phản Thanh phục Minh ở Việt Nam thờ Quan Công mà nhân huynh nói không đúng đâu. Họ không trung với nước của họ được nên đành lấy nghĩa làm trung, nghĩa với người đồng hương để không trở thành kẻ vong bản, nghĩa với nước Việt để không trở thành kẻ vong ân. Thôi đươc, về chuyện này tôi cũng từng có vài bài viết nhỏ nhỏ, sẽ tìm lại post lên để nhân huynh và các vị xem chơi.

     
  22. Hunter

    January 31, 2008 at 5:28 am

    Hy vọng tiên sinh còn tiếp tục viết những entry như thế này, đám nhỏ như bọn cháu học đuợc nhiều lắm. Mượn lại ý tiên sinh nhưng cái này cháu cũng nói thật lòng.
    Còn về ông bác Sáu thì hy vọng khi mai này đi hết chặng đường ông để lại cho quyển sách như tiên sinh mong muốn. Cũng hy vọng là đến lúc đó nó được phổ biến.

     
  23. Yến Thanh

    January 31, 2008 at 6:14 am

    Dạ, hay là anh mở thêm một entry tương tự như entry Rỗng vậy, với tên là Nhàn đàm chẳng hạn. Qua đó những ai muốn tham vấn ý kiến của anh hay có điều gì muốn rộng đường dư luận có thể post lên để anh và các bạn hữu có thể chỉ giáo thêm. Ngoài ra, trong các ý kiến hỏi đáp ấy biết đâu có thể tổng hợp và giúp gợi ý thành một entry mới, hay khác không chừng nữa. Em nghĩ vậy được không ạ?
    Anh đã nhận được link chưa ạ? Vì yahoo dạo này có vẻ vui Xuân quên nhiệm vụ nhiều quá hic hic

     
  24. Quỳnh Vy

    January 31, 2008 at 7:35 am

    Em vẫn chưa hiểu vì sao Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt được ngừơi Hoa cúng bái rất đông.
    Em thỉnh thoảng vào viếng Lăng Ông ở miệt Bà Chiểu, quận Bình Thạnh, sao thấy ngươờ Việt rất ít ai vào.

     
  25. trục nhật phi

    January 31, 2008 at 10:37 am

    * QV: Câu hỏi của bạn nếu đúng cũng rất khó trả lời chính xác, vì không có các dữ kiện cần thiết về thành phần xã hội (nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi) và mục đích cúng bái (cầu phúc, cầu tài, xin xăm, hoàn nguyện) của những người Hoa ấy, nhưng đại thể có mấy hướng trả lời như sau:
    1. Tâm lý dân tộc thể hiện qua hoạt động tín ngưỡng, vì nói chung người Hoa sùng bái thần thánh hơn người Việt.
    2. Tâm lý cộng đồng thể hiện qua hành vi tín ngưỡng, vì khác với nhiều thế kỷ trước, đến thế kỷ XX đối với người Hoa ở Việt Nam các thần thánh mà họ thờ cúng đã dần dần mang tính chất là sự biểu trưng cho truyền thống văn hóa và sức mạnh đoàn kết của cộng đồng.
    * The Loner: Như thế cũng được, anh gởi đi.
    * Các vị mà nhất là The Loner, QV: Những comment hay câu hỏi ngoài lề thế này đúng là cần thiết nhưng lại lạc đề so với entry, các vị cùng nghĩ xem chúng ta có cách nào để thảo luận những vấn đề cần thiết tương tự một cách thuận lợi hơn không?

     
  26. AQ

    January 31, 2008 at 12:56 pm

    Có một vấn đề như sau, không biết có thể dùng để tham khảo được không.
    Trong Tam Quốc Chí có nhân vật Quan Công, nổi danh là người trọng tín nghĩa. Ngoài ra, khi bị Tào Tháo bao vây và gọi hàng, ông có đưa ra quan điểm “Hàng Hán chứ không hàng Tào”.
    Do vậy, người Hoa ở Việt Nam thường thờ Quan Công, với 1 trong 2 ý nghĩa :
    1. Đối với giới doanh thương, thì họ thờ Quan Công với ý nghĩa thờ chữ “Tín”. Đây là vấn đề quan trọng bật nhất trong kinh doanh;
    2. Những người Hoa qua Việt Nam trong thời kỳ “kháng Thanh phục Minh” thì họ thờ Quan Công theo cái nghĩa “hàng Hán chứ không hàng Tào”, nghĩa là tuy ở VN nhưng lòng luôn hướng về tổ quốc. Ngày nay, con cháu họ vẫn giữ tập tục này để tỏ lòng trung với tổ quốc.
    Tôi không biết nhiều về Lê văn Duyệt, nhưng có thể có điểm nào đó trùng hợp với tín ngưỡng của người Hoa, nên họ dùng Đức Tả quân làm biểu tượng.
    Tôi cũng được biết, thời Ngô Đình Diệm, chính phủ Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) không cho người Hoa hoạt động kinh doanh một số ngành nào đó, trong đó có xuất nhập khẩu gạo, gỗ, tân dược và một số mặt hàng thiết yếu khác, do đó bắt buộc những người Hoa hoạt động trong lĩnh vực này phải nhập quốc tịch Việt Nam. Và để che dấu cái “gốc Hoa” của mình, họ phải mượn một vị thánh, thần gì gì đó của VN để làm biểu tượng cho họ. Đức Tả quân được dân thờ phụng như thần thánh, nên có thể họ lấy danh của ông làm “biểu tượng” cho họ.

     
  27. trục nhật phi

    February 1, 2008 at 6:08 am

    * HS: Ờ, xin lỗi, là hôm dời nhà tôi khóa gấp nên bấm lầm, nhưng bạn nhắc nên tôi thấy cũng cần phân biệt một tí cho vệ sinh. Đại thể là từ nay blog này chỉ mở public cửa quick comment cũng đủ cho người thiên hạ vào phát cả đống ngôn rồi, còn cửa sổ send message chỉ mở cho friends of friends tâm một số sự thôi.
    * Hunter: Cám ơn anh. Nghe nói ông Sáu có một quyển hồi ký vừa xuấr bản nhưng tôi lu bu chưa ra nhà sách, không biết nội dung thế nào.
    * The Loner: Tôi đã nghĩ tới chuyện anh nói, nhưng thấy mình không đủ học vấn và thời gian, lại dễ mang tiếng làm phách dạy đời. Cũng đã tính tới chuyện mở một blog tập thể, nhưng nếu các thành viên không tin cậy tôn trọng lẫn nhau thì rất khó tồn tại, thôi cứ chờ một thời gian xem. Ngoài thư của anh tôi còn nhận hai thư của một người khác nhưng không mở được, cũng không thấy trong maibox, chắc Yahoo! có chuyện rồi.

     
  28. May♥N

    February 1, 2008 at 6:53 am

    Khi viết lách nói chung hình như phải đứng trên một lập trường nhất định, cái mà người ta hay kêu là nhân sinh quan, thế gới quan gì gì đó. Chuyện chép sử cũng thế, thành ra một sau 1975 người ta không chấp nhận Trần Trọng Kim.

    M nhớ hồi nhỏ học sử ký, Nguyễn Huệ không được ca tụng “anh hùng áo vải”. Có lẽ cái áo vải trong thuở hàn vi của vua Quang Trung làm ông gần gũi với giai cấp công nông chăng ?

    Xin đừng bực mình vì câu hỏi lòi đuôi dốt nát sau đây ” cuối cùng thì GS Trần văn Giàu có viết “quyển Những sai lầm trong đời nghiên cứu của tôi” không ạ ?

     
  29. trục nhật phi

    February 2, 2008 at 5:30 am

    May N: Bây giờ thì tôi dám nói chắc là ông không viết đâu.

     
 
%d bloggers like this: